VIỆC HỌ
Người xưa từng dạy: “Việc họ là việc nhà, việc làng là việc nước.” Câu nói ấy cho thấy cha ông ta phân định rất rạch ròi giữa việc họ và việc làng. Tuy họ và làng có mối liên hệ mật thiết, nhưng cách hành xử lại hoàn toàn khác nhau. Việc họ được xử theo nếp nhà, theo tình huyết thống, lấy nghĩa tình làm gốc. Việc làng thì căn cứ vào chức tước, phép tắc, quốc pháp mà thi hành.
Trong chúng ta, phần lớn đều từng tham gia công việc xã hội, công việc nhà nước. Vì vậy, trong tâm thức và thói quen, ta thường quen hành xử theo “việc nước”. Khi trở về đảm đương việc họ, những nếp nghĩ, nếp làm ấy vẫn còn in sâu, trong khi việc họ lại không có trường lớp đào tạo bài bản, nên sự nhầm lẫn cũng là điều dễ hiểu.
Suốt hơn bốn mươi năm chiến tranh và biến động, việc họ bị sao nhãng. Đến khi đất nước thanh bình, chúng ta mới dồn tâm sức trở lại với dòng tộc. Nhưng không ít người đã vô tình mang tâm thế quản lý của việc nước, hoặc cách ứng xử trong phạm vi gia đình nhỏ, để áp đặt vào việc họ. Tưởng như vậy là hợp lý, nhưng thực ra giữa các phạm vi ấy có những khác biệt rất tinh tế.
Sau bốn mươi năm, những thế hệ am tường việc họ phần lớn đã khuất. Chúng ta không có đủ thời gian và điều kiện để học hỏi đầy đủ từ các bậc tiền bối. Nay gánh vác trọng trách dòng tộc, những thiếu sót cũng là điều khó tránh.
Bởi vậy, điều cần thiết là mỗi người phải quay về nguồn cội, tìm lại những kinh nghiệm mà ông cha để lại. Ẩn sâu trong đó là văn hóa dòng họ, kết tinh của bao đời vun đắp. Sau đây tôi xin trình bày những điều được ghi nhận và tìm hiểu về việc họ
Trong tín ngưỡng truyền thống của người Việt, có hai hệ thờ tự cơ bản:
I. Thờ gia tiên, gia thần và tín ngưỡng trong từng gia đình
1. Thờ Gia Tiên
Trong ban thờ gia tiên cổ truyền của mỗi gia đình thường thờ tối đa bốn đời. Đến đời thứ năm thì gọi là “ngũ đại mai thần chủ”.
Ngày xưa, khi có người qua đời, con cháu làm bài vị bằng gỗ gọi là Thần Chủ. Khi đến đời thứ năm, chữ “mai” có nghĩa là chôn hoặc làm mờ đi, tức là không còn thờ riêng tại gia nữa và cũng không tổ chức giỗ riêng (tống giỗ). Các vị ấy được cung thỉnh về nhập thờ chung tại từ đường, gọi là “ngũ đại nhập từ đường”.
Đây là cách chuyển tiếp từ phạm vi gia đình nhỏ sang phạm vi dòng họ.
2. Thờ Gia Thần
Gia thần là các vị thần coi sóc trong từng gia đình, tiêu biểu là Táo Quân. Theo truyền thuyết, Táo Quân ghi nhận việc thiện, việc ác của gia chủ, cuối năm chầu trời tâu với Ngọc Hoàng.
Ngoài ra, ngày xưa nhiều nơi còn thờ Tiền chủ, Hậu chủ, những người từng cư ngụ hoặc có công với mảnh đất ấy. Ngày nay, tập tục này ở nhiều địa phương đã mai một.
Phân biệt thờ Tiền chủ, Hậu chủ, thờ Tôn giáo và thờ tại Nhà thờ Họ
Trong đời sống tâm linh của người Việt, việc thờ tự được hình thành trên những nguyên tắc rõ ràng về phạm vi, đối tượng và chức phận. Tuy nhiên, do tập quán dân gian pha trộn qua thời gian, nhiều nơi chưa phân định rạch ròi giữa thờ gia đình, thờ tôn giáo và thờ tại từ đường dòng họ. Bài viết này nhằm làm sáng tỏ các phạm vi ấy để việc thờ tự được đúng lễ nghĩa, thuận đạo lý.
I. Thờ Tiền chủ – Hậu chủ trong phạm vi gia đình
1. Tiền chủ là ai?
“Tiền chủ” là người từng sinh sống trên mảnh đất, ngôi nhà trước đây. Có thể là chủ cũ, cũng có thể là người đã qua đời trên mảnh đất ấy mà không có người thờ tự.
Theo tín ngưỡng dân gian, những vong linh này có thể còn “vướng đất”, chưa siêu thoát nên quanh quẩn tại nơi cư trú cũ. Vì vậy, khi gia chủ mới đến ở, thường làm lễ:
- Cúng xin phép nhập trạch
- Cúng an đất
- Cúng cô hồn, tiền chủ
Mục đích là cầu mong được ở yên ổn, hòa khí, không bị quấy nhiễu.
2. Hậu chủ là ai?
“Hậu chủ” được hiểu là những người sẽ đến ở sau mình trong tương lai, hoặc những vong linh đến sau.
Việc cúng “hậu chủ” mang ý nghĩa nhân quả và thiện duyên:
- Chia phần phúc đức
- Kết duyên lành
- Gieo tâm nhường chỗ
- Mong người đến sau cũng đối đãi tử tế
Đây là tinh thần hòa khí, biết trước biết sau trong đạo lý dân gian.
3. Bản chất của việc thờ Tiền chủ, Hậu chủ
Tiền chủ, hậu chủ:
- Không phải tổ tiên của mình
- Không phải thần chính thống như Táo quân
- Thuộc dạng vong linh vô tự hoặc cô hồn địa phận
Vì vậy:
- Chỉ cúng ngoài sân, trước cửa nhà
- Không đặt bàn thờ chính trong nhà
- Không đưa lên bàn thờ gia tiên
- Không lập bài vị thờ tự lâu dài
Việc cúng mang tính lễ nghĩa, không phải thờ phụng chính thức.
II. Thờ tôn giáo trong gia đình
Gia chủ theo tôn giáo nào thì thực hành nghi lễ theo tôn giáo đó, ví dụ:
- Phật giáo
- Đạo giáo (Thái Thượng Lão Quân)
- Nho giáo (Khổng Tử)
- Đạo Mẫu
- Thiên Chúa giáo
- Cao Đài
- Hòa Hảo…
Trong không gian gia đình, ban thờ tôn giáo có thể đặt chung khu vực với ban thờ gia tiên nhưng theo nguyên tắc:
- Vị trí thờ tôn giáo đặt phía trước, cao hơn
- Gia tiên đặt phía sau hoặc thấp hơn
Đây là phạm vi tín ngưỡng riêng của từng gia đình.
III. Nhà thờ Họ (Từ đường). Phạm vi tông pháp, huyết thống
Nhà thờ Họ là không gian thiêng của dòng tộc, mang tính tông pháp và huyết thống.
1. Các Hương linh thờ tự trong từ đường
Chỉ thờ:
- Thủy tổ
- Các tiên tổ từ ngũ đại trở lên
- Các hương linh cùng huyết thống
Đây là nơi quy tụ linh hồn tổ tiên của cả họ, không phải không gian sinh hoạt của từng gia đình riêng lẻ.
2. Không thờ những Hương linh ngoài huyết thống
Theo lễ nghi Nho gia và tông pháp truyền thống:
- Không thờ gia thần (Táo quân, Thần tài…)
- Không thờ nhiên thần (thần sông, thần núi, gió, lửa…)
- Không thờ tôn giáo (Phật, Mẫu, Quán Âm…)
- Không thờ cô hồn, tiền chủ, hậu chủ
Táo quân là vị thần giám sát đạo đức của từng gia đình, ghi chép việc thiện ác cuối năm tâu Ngọc Hoàng. Chức phận của Táo quân thuộc phạm vi gia đình, không thuộc dòng tộc.
Đặt Táo quân vào từ đường là sai chức phận thần linh, loạn vị tự, trái với nguyên tắc tông pháp.
3. Tính thuần nhất của từ đường
Từ đường chỉ thờ:
- Nhân thần (người trong họ được phong thần)
- Hương linh cùng huyết thống
Không pha tạp gia thần, tôn giáo hay các thần tự nhiên. Sự thuần nhất ấy bảo đảm:
- Giữ đúng đạo hiếu
- Giữ đúng vị trí lễ nghi
- Bảo toàn tông pháp
- Tránh loạn thờ
Trong thờ tự truyền thống, mỗi phạm vi đều có giới hạn rõ ràng:
- Gia đình: thờ gia tiên, gia thần, tôn giáo theo niềm tin riêng- Đất ở: cúng tiền chủ – hậu chủ mang tính lễ nghĩa dân gian
- Nhà thờ Họ: chỉ thờ tổ tiên và hương linh cùng huyết thống
Phân định rõ ràng giúp việc thờ tự đúng chức phận, đúng lễ nghi, thuận đạo lý và giữ được sự trang nghiêm của từ đường.
Giữ đúng vị tự là giữ được nền nếp gia phong. Giữ đúng tông pháp là giữ được căn cốt của dòng họ.
GIỮ SỰ THUẦN NHẤT TRONG THỜ TỰ – GIỮ SỰ BỀN VỮNG CỦA DÒNG HỌ
Nhà thờ họ là nơi quy tụ tâm linh của con cháu trong cùng một huyết thống. Đó không chỉ là không gian thờ tự, mà còn là biểu tượng của cội nguồn, của đạo hiếu và tình thân tộc.
Nếu trong nhà thờ họ đưa thêm việc thờ các vị thần linh ngoài huyết hệ hoặc pha trộn các nghi lễ tôn giáo khác nhau, rất dễ phát sinh bất đồng tín ngưỡng. Mỗi người một niềm tin, mỗi vùng một tập tục, lâu dần sẽ làm loãng ý nghĩa thiêng liêng của huyết thống. Khi quan điểm và đức tin không còn đồng nhất, sự đồng thuận trong việc họ có thể bị ảnh hưởng, thậm chí dẫn đến mâu thuẫn không đáng có.
Chính vì thấu hiểu điều đó, ông cha ta từ xưa đã đặt ra nguyên tắc rõ ràng: nhà thờ họ chỉ thờ hương linh tổ tiên trong cùng huyết hệ. Thờ tự phải có thứ bậc, có luân lý, không tùy tiện, không lẫn lộn. Người xưa dạy :
“Phân tự hữu luân” – việc thờ tự phải theo trật tự và đạo lý.
Theo truyền thống cổ, các lễ chính tại nhà thờ họ gồm: Giỗ Tổ, Xuân tế, Thu tế, Tảo mộ, Tất niên, Tân niên.
Đối với Nhà thờ họ Trương Việt Nam, do không có khu mộ chung nên không tổ chức lễ Tảo mộ. Đồng thời, căn cứ điều kiện thực tế, việc gộp Xuân tế, Thu tế và Giỗ Tổ thành một đại lễ là phù hợp và hợp lý.
Hiện nay, mỗi năm Nhà thờ họ Trương Việt Nam duy trì ba lễ chính:
Ngoài ra, hương đăng được chăm sóc thường xuyên suốt cả năm, thể hiện lòng thành kính liên tục của con cháu đối với tổ tiên.
Nhà thờ họ không thực hiện các nghi lễ mang tính gia thần như cúng Táo quân, cũng không tổ chức lễ Vu Lan theo nghi thức tôn giáo. Mọi hoạt động thờ tự đều quy về một mục đích duy nhất: tưởng niệm và tri ân tổ tiên trong cùng huyết thống.
Giữ sự thuần nhất trong thờ tự chính là giữ gìn nền tảng đoàn kết của dòng họ, bảo toàn đạo hiếu và sự bền vững lâu dài của việc họ.
Ngày 11 tháng 2 năm 2026
Trương Đăng Duệ - Chủ tịch Hội đồng họ Trương Quảng Trị